Để hạn chế hội chứng tôm chết sớm

Thứ Năm, 26/12/2013 19:32

Liên minh Nuôi trồng thủy sản toàn cầu (GAA) vừa tổ chức hội thảo “Hội chứng tôm chết sớm (EMS) - Quản lý dịch bệnh gây tôm chết hàng loạt”.

Hội chứng tôm chết sớm - còn gọi là hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (AHPNS) - là một dịch bệnh phá hủy hệ tiêu hóa của tôm và làm tôm chết sau 30 ngày thả nuôi. EMS lần đầu tiên được phát hiện ở Trung Quốc vào năm 2009, bùng phát ở Việt Nam năm 2010, sau đó xuất hiện ở bán đảo Malaysia và phía Đông Malaysia năm 2011. Dịch bệnh này xuất hiện ở Thái Lan năm 2012 và lan sang Mexico năm 2013. Hiện có tin dịch bệnh này bùng phát ở một số nước khác.

Năm 2013, sản lượng tôm thế giới giảm khoảng 15% so với năm 2011. Năm 2014, nếu dự kiến tăng trưởng 5%/năm, sản lượng thực tế sẽ dưới mức kỳ vọng 23%. Sản lượng tôm toàn cầu dự kiến đạt khoảng 4 triệu tấn/năm. Nếu giảm 25%, có nghĩa là giảm 1 triệu tấn, thì ngành nuôi tôm mất khoảng 5 tỉ USD.

Xác định những dấu hiệu ban đầu của bệnh là điều rất quan trọng vì người nuôi thường xem bất kỳ bệnh nào xuất hiện ngay sau khi thả nuôi đều là EMS. Sau khi các dấu hiệu cơ bản được xác định, giai đoạn cấp tính được cho là giai đoạn sinh ra độc tố, xuất hiện hoạt động khác thường ở gan tụy và làm suy yếu các tế bào. Sau giai đoạn cấp tính là giai đoạn cuối của bệnh, lúc này vi khuẩn có cơ hội tấn công gan tụy đã bị tổn thương, khiến tôm chết.

Tác nhân gây bệnh được phỏng đoán là do một loại virus hoặc một chất độc nào đó. Tảo độc, chất tiêu diệt thủy sản có vỏ và những chất độc ở đất đều được cho là nguyên nhân gây bệnh. Tất cả các tác nhân này đều được chứng minh sẽ khiến tôm chết.

Tập đoàn CP Group đã có nhiều thử nghiệm về EMS và đã thành lập một trung tâm để thử nghiệm nhiều cách chữa trị khác nhau cho tôm nhiễm bệnh. Mầm bệnh Vibrio parahaemolyticus phát triển nhanh, tìm thấy ở đáy ao và sản xuất ra chất độc cực mạnh nhưng vi khuẩn này không sinh ra độc tố cho tới khi chúng đạt được mật độ nhất định. EMS không chịu độ mặn thấp (độ mặn dưới 5/1.000), do đó các trại nuôi gần nguồn nước ngọt sẽ không gặp vấn đề với bệnh này. EMS phát triển tốt trong thời tiết nóng, nước ấm. Độ pH cao cũng khiến tảo xanh phát triển dày đặc, là điều kiện cho EMS phát triển. EMS còn phát triển trong môi trường phân bón (urea, nitrogen, carbon và phosphorous), kích thích sự phát triển của sinh vật nổi trong ao.

Tại Thái Lan, Tập đoàn CP phát hiện ra EMS phổ biến nhất không phải tại vùng duyên hải nơi nước nuôi tôm thường được dẫn trực tiếp từ biển vào hay khu vực sâu trong đất liền, nơi có độ mặn thấp hơn. Khu vực bị EMS tấn công mạnh nhiều nhất là vùng đất nằm giữa hai vùng trên, nơi có nguồn nước lợ và nhiều trại nuôi bơm dẫn nước vào và xả thải trong cùng một nguồn nước. Đây là khu vực khuẩn EMS tập trung nhiều nhất và gây bùng phát nhiều đợt dịch.

Theo các chuyên gia, để hạn chế tôm chết sớm, nên nuôi tôm cỡ lớn hơn sẽ ít bị nhiễm dịch. Bên cạnh đó, sử dụng công nghệ nuôi trong hệ thống nước chảy hoặc nuôi ươm trước khi thả tôm vào nuôi trong ao hoặc chuyển sang nuôi loài khác. Các thí nghiệm cho thấy tôm chân trắng vannamei và tôm sú monodon đều chết khi ăn thức ăn có EMS nhưng khi nuôi trong ao, tôm sú ít bị ảnh hưởng hơn. Điều này có thể cũng liên quan đến phương pháp cho tôm ăn và cũng cho thấy khả năng phục hồi của tôm sú. Do vậy, cần nuôi ghép cá rô phi với tôm, giống như phương pháp nuôi ghép hai loài này để tránh virus gây bệnh đốm trắng. Sử dụng công nghệ sinh học biofloc để đa dạng hóa quần thể sinh vật trong các ao nuôi tôm hoặc nuôi tôm đã kháng được bệnh EMS có thể mang lại hiệu quả.

Long Giang

Chia sẻ:

Gửi bình luận

Chứng khoán

Thông tin cần biết