Tôi đã mua được nhà và đồng sở hữu 2 căn hộ khác bằng cách này

Dưới đây là chia sẻ của chị Bình:

Gia đình tôi trước đây sống ở căn nhà ở quận Đống Đa mà bố mẹ để lại. Từ năm 2011, cơ quan tôi chuyển về Cầu Giấy, khá xa nơi ở. Khi đó, chồng tôi đi nước ngoài, bố mẹ hai bên đều sống ở quê, hai con lại còn khá nhỏ (cháu trai 1 tuổi, cháu gái 3 tuổi) nên tôi không biết xoay xở làm sao.

Lương mỗi tháng của tôi được khoảng 14 triệu, thêm 30-40 triệu tiền thưởng cuối năm. Dù thu nhập của chồng tôi khi làm ở nước ngoài cao hơn nhưng cũng không tích lũy được nhiều do chi phí bên đó cũng khá đắt đỏ.

Khi ấy, việc kinh doanh của chị gái tôi đang khá thuận lợi. Chị bảo tôi cứ tìm căn hộ nào gần cơ quan để mua, chị sẽ hỗ trợ phần còn thiếu. Cuối năm đó, tôi đề nghị chị cùng góp vốn và đồng sở hữu một căn chung cư rộng 103m2 giá 2,3 tỷ đồng ở quận Cầu Giấy. Nhưng chị nói: "Chị em là phải tin nhau, em cứ đứng tên nhà".

Hai vợ chồng tôi đi vay mượn thêm để đóng trả góp. Tôi và chị gái chia đôi số tiền phải nộp từng đợt. Có lần chị đóng luôn dùm tôi do tôi chưa "xoay" kịp tiền. Tới ngày nhận nhà, tôi đã nộp 1 tỷ, còn chị gái nộp 1,3 tỷ.

Tôi đã mua được nhà và đồng sở hữu 2 căn hộ khác bằng cách này - Ảnh 1.

Chị Bình đã mua được nhà nhờ góp vốn với chị gái. Ảnh minh họa

Chúng tôi rất biết ơn sự giúp đỡ của chị. Hai vợ chồng nhịn ăn nhịn mặc, chồng tôi cũng hạn chế về nước hơn để tiết kiệm tiền vé máy bay và quà cáp để trả cho chị.

Năm 2014, tôi bàn với chị mua tiếp một căn tại một dự án ở quận Bắc Từ Liêm với những căn khoảng 60m2. Tôi dự đoán giá nhà sau này sẽ tăng do khi mua, khu vực này còn chưa sầm uất như bây giờ nhưng cũng đã có khá nhiều tòa văn phòng quanh đó.

Hai chị em mỗi người lại góp 50% nhưng lần này chị gái tôi đứng tên. Căn hộ 60m2 có giá 1,5 tỷ đồng. Tôi và chồng tiết kiệm và vay người quen 10-20 triệu đồng để trả góp.

Sau khi mua, chúng tôi sắm thêm nội thất để cho người Hàn Quốc thuê lại với giá 11 triệu đồng/tháng. Vì vẫn còn nợ chị tiền căn nhà trước và rất biết ơn chị nên tôi để chị hưởng hết phần tiền thuê căn nhà này. Giá nhà khi mua là 25 triệu đồng/m2 và hiện đã lên khoảng 29 triệu.

Mỗi năm, ông xã tôi để dành được 300-400 triệu còn tôi cũng dành được 5-7 triệu/tháng. Đến đầu năm 2017, vợ chồng tôi đã trả nợ xong cho căn thứ hai và còn nợ một ít ở căn nhà thứ nhất.

Cùng lúc đó, chị tôi lại muốn mua chung một căn hộ rộng 70m2 ở quận Hai Bà Trưng giá 1,7 tỷ đồng. Căn hộ này không phải là chung cư cao cấp nhưng có nhiều tiện ích, lại nằm gần khu vui chơi, mua sắm nên chỉ gần một năm, giá nhà đã tăng từ 25 triệu/m2 lên 27 triệu. 

Tôi đề nghị bán sang tay luôn để đỡ phần nợ nần nhưng chị bảo sẽ lấy tiền thuê căn nhà thứ hai để trả nợ giúp tôi nếu đợt nào tôi chưa có tiền. Tôi cũng nói chị đứng tên căn hộ này luôn, coi như chị vay tiền tôi để mua nhà. Nếu nhà cho thuê, chị sẽ nhận tiền thuê còn nếu bán, chị chia lại cho tôi phần đã góp là được.

Căn nhà thứ 3 sẽ được giao sau khoảng 3 tháng nữa. Vậy là chỉ sau 6 năm, tôi đã có nhà riêng và còn góp thêm để mua 2 căn hộ khác. Tôi đã thấy nhiều gia đình bất hòa khi làm ăn chung nên càng thấy may mắn khi hai chị em tôi đoàn kết giúp đỡ nhau.

Tôi nghĩ rằng, để mối quan hệ được bền vững, điều quan trọng là phải sống biết điều, phải biết đền ơn khi được giúp đỡ. Tôi luôn cố gắng trả nợ chị sớm nhất dù chị gái tôi giàu có.

Luật sư Kiều Anh Vũ (Đoàn Luật sư TP HCM) tư vấn về trường hợp người thân cùng chung mua bất động sản:

Nhiều người thân quen đã góp tiền để mua chung nhà đất. Việc mua chung bất động sản là thỏa thuận dân sự và đã được quy định tại Luật Đất đai 2013: "Thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất, nhiều người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải ghi đầy đủ tên của những người có chung quyền sử dụng đất, người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và cấp cho mỗi người một giấy chứng nhận. Trường hợp các chủ sử dụng, chủ sở hữu có yêu cầu thì cấp chung một giấy chứng nhận và trao cho người đại diện".

Việc mua chung này rất dễ dẫn đến tranh chấp, điển hình là việc chỉ có một người đứng tên nhưng không có thỏa thuận rõ ràng. Khi đó, người không đứng tên có thể không thực hiện được quyền sử dụng, quản lý, định đoạt với tài sản chung.

Hay dù cùng đứng tên nhưng hai bên lại không thống nhất được việc sử dụng, quản lý, định đoạt tài sản chung, dẫn đến tranh chấp xảy ra.

Để hạn chế rủi ro và phát sinh tranh chấp, các bên phải thỏa thuận rõ ràng bằng văn bản, nêu rõ phần đóng góp, tỷ lệ sở hữu của mỗi bên; thỏa thuận các vấn đề về sử dụng, quản lý, định đoạt tài sản chung; ghi tên các bên vào giấy chứng nhận (nếu chỉ để một người đại diện thì phải có văn bản thỏa thuận về việc này).